Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh hay nhất 2020

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh

 

Bình Giảng Tuyên Ngôn Độc Lập

Tuyên Ngôn Độc Lập

Đề bài: “Bàn về tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có ý kiến cho rằng: “Tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất vấn chương tháng tư tưởng lớn lao thời đại mới. Có ý kiến khác lại cho rằng: “Đây là tác phẩm nổi tiếp tự nhiên các áng thiên cổ hùng Văn trong quá khứ”. Từ việc phân tích hệ thống lập luận của tác phẩm, anh (chị) hãy bình luận những ý kiến trên

 

A/ Mở bài:

Âm hưởng của cung đàn có thể dư âm mãi mãi ở  trong lòng thính giả bởi người nghệ sĩ tài hoa. Một lời nói có thể  trôi mai xuyên xuốt thời gian không gian và trường tồn cùng lịch sử . Cũng như có những áng thiên cổ hùng vẫn không thể nào có thể bị chôn vùi trong quá khứ. Bài thơ thần của Lý Thường Kiệt hào sảng vàng bên dòng sông Như Nguyệt trong cuộc chiến chống quân đại quân xâm lược của nhà  Tống. Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Nguyễn Trãi tự hào thay mặt Lê Lợi  soạn ra  bản Bình Ngô đại cáo vang dội cả nước.

Và sau hơn 80 năm quật khởi đứng lên  chống lại ách xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, khúc khải hoàn ca Tuyên ngôn Độc lập lại một lần nữa hùng hồn dõng dạc  vang  lên trên quảng trường Ba Đình lịch sử: nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập.   Có ý kiến đã cho rằng “Tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương mang tư tưởng lớn lao của thời đại mới. Có ý kiến khác lại cho rằng: “Đây là tác phẩm nối tiếp tự nhiên các áng thiên cổ hùng văn trong quá khứ” Cả hai nhận định trên đều đã góp phần làm nổi bật giá  của bản tuyên ngôn trường tồn và bất hủ này.

B/ Thân bài:

Giới thiệu tác giả tác phẩm.

 Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong hoàn cảnh trên thế giới chiến tranh thế giới thứ hai đang dần đi vào giai đoạn cuối sắp kết thúc (Hồng quân của  Liên Xô tấn công vào sào huyệt của phát xít Đức, Nhật đầu hàng phe Đồng minh).Trong nước bấy giờ : Cả nước đang  nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.   Ngày 26 tháng 8 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về đến thủ đô Hà Nội, đích thân soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Vào đúng Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội:   Hôm nay sáng mùng hai tháng chín Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình Muôn triệu con tim chờ, chim cũng nín Bỗng vang lên tiếng hát ân tình (Tố Hữu)

Tuyên ngôn Độc lập viết để hướng tới đồng bào cả nước những người đã hơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược bạo hành bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đối tượng hướng tới của bài Tuyên ngôn không chỉ là con dân  nước Việt Nam mà còn là nhân dân trên toàn thế giới. Phần cuối của tác phẩm, Bác đã viết:“vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng  tuyên bố với thế giới rằng:” Hoàn cảnh ra đời của bản Tuyên ngôn còn giúp chúng ta nhận thấy đối tượng hướng tới của tác phẩm còn là các thế lực thù địch và cơ hội quốc tế đang nuôi dã tâm tái nô dịch đất nước ta đặc biệt là hai cái tên đã từng bị chúng ta đánh bại là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.

Giải thích ý kiến:

Trong một khối  dung lượng câu chữ nhỏ hẹp của bản Tuyên ngôn, người đọc dễ dàng  bắt gặp những tư tưởng lớn lao của dân tộc và thời đại. Tuyên ngôn Độc lập trước hết đã tiếp nối và phát huy được  truyền thống bản sắc  yêu nước và tự hào của văn học Việt Nam, là nơi kết đọng rất nhiều  tình yêu đất nước của con người Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Tuyên ngôn Còn có sự gặp gỡ về tư tưởng với các áng thiên cổ hùng văn trong lịch sử ở thái độ căm ghét tối tác đối với  kẻ thù xâm lược nỗi đau đó khi giang sơn gấm vóc tổ tiên để lại bị giày xéo và hơn hết  chính là khát vọng hòa bình cháy bỏng.

Độc lập của dân tộc, khát vọng hòa bình không chỉ là khát vọng của nhân dân Việt Nam mà đó còn là giấc mơ vĩnh hằng mong muốn được thành hiện thực  và đẹp đẽ của toàn nhân loại đầu thế kỉ XX. Tư tưởng ấy khát vọng ấy đã được Hồ Chí Minh thể hiện hết sức  cảm động trọn vẹn trong  bản Tuyên ngôn Độc Lập. Độc lập dân tộc điều tưởng như là lẽ đương nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi người mỗi đất nước  . Từ quyền con người  Hồ Chí Minh đã nâng lên thành quyền  dân tộc và đặt ra cho mỗi dân tộc,  đặc biệt là các dân tộc đã và đang bị áp bức khắp Á – Phi – Mĩ Latinh nhu cầu cần phải đấu tranh để giành lại  độc lập tự do bình đẳng .

Tư tưởng mang vóc dáng của thời đại ấy được thể hiện thẳng thắng trong câu văn thật khiêm nhường:”Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới, sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Phân tích và chứng minh:

3.1. Tuyên ngôn Độc lập mang tư tưởng lớn lao của thời đại:

Trước hết  đây chính  là một áng văn chính luận đầy mẫu mực. Sức thuyết phục mạnh mẽ truyền cảm được toát ra từ những  lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép hùng hồn đến bằng chứng không ai chối cãi được. Khép lại lời mở đầu chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là những lẽ phải không thể nào chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã nhắc đến lẽ phải ở đây không có gì khác  mà chính là quyền bình đẳng, quyền sống tự do và  sung sướng hạnh phúc của mỗi một cá nhân cũng như  một dân tộc. Đã là chân lý thì ”không ai chối cãi được” vì nó đã rành rành ghi lại trong các bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh và có quyền bình đẳng. Tạo hóa  cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đây, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc “ .

Bản luyện ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng có ghi : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đây là những bản tuyên ngôn từng vang lên sau những cuộc cách mạng lớn trong lịch sử, gắn liền với niềm tự hào của loài người tiến bộ. Nói lẽ phải tức là nói đến chân lí khách quan, đúng đắn, thuyết phục được mọi người và được người ta mặc nhiên thừa nhận “.

Có như vậy thì  mới bác bỏ được mọi lời “chối cãi” đi ngược với chính  nó.  Bác đã nêu một chân lý có tính khái quát rộng rãi , và khéo léo tỏ ra tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của chính cha ông kẻ xâm lược vì những điều đã nêu trên  được coi là chân lí của nhân loại. Cách lập luận rất kiên quyết: Dùng lập luận gậy ông đập lưng ông và từ đó  lấy chính lí lẽ thiêng liêng của tổ tiên chúng để phê phán và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng. Nếu Pháp và Mĩ  mà cố tình đi ngược lại tức là họ đã phủ nhận chối bỏ  chính tổ tiên của mình, làm vấy bùn tạo vết nhơ lên lá cờ nhân đạo đã từng là niềm tự hào của cha ông họ.

Đồng thời Người đã ngấm ngầm gửi gắm lòng tự hào tự tôn dân tộc đặt ba cuộc cách mạng, ba bản tuyên ngôn và đặt  ba dân tộc ngang hàng nhau. Từ quyền bình đẳng cho đến  tự do cùng với  mưu cầu hạnh phúc của con người (tuyên ngôn của Mỹ và Pháp) Bác đã suy rộng ra, nâng những điều đó  lên thành quyền bình đẳng và quyền  tự do của các dân tộc trên thế giới:  “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.  Xã hội ở  Âu Mĩ đầu của thế kỉ XX luôn bị bao trùm bởi chủ nghĩa cá nhân .

Những gì tuyên ngôn của họ đưa ra đều đáp ứng cho những nhu cầu thuộc về phía  cá nhân, về cái tôi của tất cả mọi người. Chẳng thể có khái niệm   dân tộc xuất hiện đúng hơn là không hề có bóng dáng của lập trường dân tộc. Thực chất sự bình đẳng bác ái được nêu ra kia áp dụng chỉ đối với người da trắng, chính là  một nhóm người của xã hội ấy mà thôi.

Bởi thế đi  từ cái tôi cá nhân của xã hội tư bản cho đến chủ nghĩa dân tộc là cả một vấn đề khó . Đó phải là suy luận hợp lí, cùng óc sáng tạo, là đóng góp quan trọng được coi là bậc  nhất trong tư tưởng giải phóng dân tộc của Bác, cũng chính là phát súng lệnh cho bão táp cách mạng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân giành độc lập ở các nước thuộc địa Á, Phi, Mĩ Latinh.

Chất tư tưởng của cách mạng là kết quả của một quá trình dài tiếp thu nhận thức của thời đại tronghành trình đi tìm đường cứu nước từ năm 1911. Nói theo nhà thơ Chế Lan Viên:“Nó tiếp tục bảnyêu sách của nhân dân Việt Nam năm 1919 của ông Nguyễn Ái Quốc, bản yêu sách có tên làQuyền của các dân tộc”. Đó cũng chính là chất mới, chất thời đại của chủ tịch  Hồ Chí Minh. Nó là sự kiện vô cùng nóng hổi của thế kỉ XX chứ không phải ở thế kỉ XVIII  .

Vào thế kỉ XV, trong bản  Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện cứng rắng mạch lạc niềm tự hào dân tộc khi đặt ngang các triều đại của Việt Nam bên cạnh các triều đại  của đế vương Trung Quốc: Từ Triều, Đình, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đến một phương. Chân lí nghìn đời nay nói  về sự độc lập cũng được khẳng định một cách triệt để trong bài thơ thần của Lý Thường Kiệt:   Nam quốc sơn hà Nam đế CưTiệt nhiên định phận tại thiên thư Xét về hoàn cảnh ra đời thì  áng văn nào cũng đều là một khúc khải hoàn cả, ghi lại những thời điểm trọng đại nổi bật đối với vận mệnh của đất nước. Chủ tịch  Hồ Chí Minh đã tiếp nối truyền thống của biết bao thế hệ  dân tộc anh hùng. Truyền thống ấy xuất phát  từ lòng yêu  dân tộc đất nước , được những người con ưu tú nhất viết ra cũng như nói về dân tộc mình.

Ta nhớ lại lời của Lý Thường Kiệt đã viết ở trong Lộ Bố: “Nay bản chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Ta nay ra quân cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm”. Còn Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo thì lại nói rằng  “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân “. Bản Tuyên ngôn của Bác đã lấy tư tưởng cho dân tộc làm nền tảng để từ đó  tiến xa hơn thế. Cũng hẳn là  tám lần Bác viết “dân ta”, ba lần nói tới “đồng bào ta hầu như lúc nào cũng đã cập đến “nước ta, dân tộc ta”.

Điều đó cũng  hoàn toàn dễ hiểu bởi vì Bác là thành viên trong dân tộc ấy Bác cùng sống, cùng gian khổ với người dân nên Bác đồng cảm hiểu rõ hơn ai hết và cũng  như người cha luôn thấu hiểu những đứa con của mình, Trong bản  Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã cụ thể hóa các tội ác man dợ  của giặc Minh: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi Con đỏ xuống hầm tai vạDối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế.

Thấm đẫm tinh thần của dân tộc, Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh cũng không khỏi xót xa trước biết bao những  đau thương mất mát của dân ta và căm phẫn trước tội ác của kẻ thù xâm lược. Hồ Chí Minh đã vạch rõ những tội ác đáng lên án  của thực dân Pháp reo rắc trên đất nước ta suốt hơn 80 năm qua: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta “. Người  phủ nhận hoàn toàn tất cả  thái độ của Pháp, đã phản bội lại lời lẽ chân lý của cha ông.

Hai chữ “Thế mà” đã làm nổi bật quan hệ tương phản giữa lí lẽ tốt đẹp và những hành động tội ác man rợ  trắng trợn.  Pháp đã  kể công”bảo hộ, bản Tuyên ngôn lên án chúng:”Mùa thu của năm 1940, phát xít Nhật đem quân tràn đến xâm lược  Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân nhút nhát  Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước bọn phát xít  Nhật” “Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước toàn bộ khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp một  là bỏ chạy, hai  là đầu hàng. Pháp đã bán nước ta chính xác là  hai lần cho Nhật”. Đảng bảo hộ đó còn phải  quỳ gối xuống  mở cửa rước Nhật vào nước ta. Còn đâu một nước mẹ Đại Pháp nói lên hai chữ bảo hộ, chỉ còn lại là một tên bại trận ti tiện và đớn hèn.  Hồ Chí Minh đã kết tội thực dân Pháp một cách dõng dạc toàn diện và đanh thép, những dẫn chứng người đưa ra vừa khái quát vừa cụ thể và thẳng thắn . Bóng đen của thực dân đã bao trùm lên hầu hết  mọi lĩnh vực trong  đời sống dân tộc.

Để tố cáo tất cả những  tội ác của Pháp, chủ tịch  Hồ Chí Minh dùng nhiều từ ngữ có tính biểu cảm cao như: dã man, thẳng tay, bể máu, ngu dân, xương tủy cùng với  cướp không, tàn nhẫn để tăng cường hiệu quả  sự diễn đạt và sức tố cáo mạnh mẽ  cho bài văn nghị luận. Đồng thời Người còn sử dụng các biện pháp nghệ thuật tương phản đi kèm với  liệt kê. Mỗi ý liệt kê lại được tách ra thành những đoạn văn riêng biệt khác nhau .

Để tô đậm sự ấn tượng, có nhiều đoạn văn chỉ bao gồm vỏn vẹn một câu. Bên cạnh đó là những đoạn văn dài đã  ghi mốc thời gian cụ thể theo diễn biến của từng  sự kiện khiến cho người đọc có cảm tưởng như đang lần giở những trang hồ sơ vụ án mà ở trong các trang ấy mỗi sự kiện đều được kết luận, luận tội  hết sức rõ ràng. Pháp đã  khẳng định rằng  Đông Dương là thuộc địa của chúng, Tuyên ngôn đã  nói rõ: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa” Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”

Đông Dương là thuộc địa của Nhật, ta giành lại chính quyền từ tay của  Nhật chứ không phải từ thực dân  Pháp, Pháp đã nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã chiến thắng được Nhật, chúng có quyền hạn để  lấy lại Đông Dương, Tuyên ngôn cũng vạch rõ ràng : Chính Pháp là kẻ phản bội lại phe  Đồng minh, hai lần dâng toàn bộ  Đông Dương cho Nhật. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp cùng liên minh để chống lai phát xít  Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại mà chúng còn thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thật chỉ đến khi thua chạy tan tác , chúng còn nhẫn tâm giết nốt một số những  người  tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Người đã bác bỏ những  luận điệu giả dối và lên án những  tội ác dã man và vô cùng  đê tiện của chúng. “Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân Chủ Cộng hòa”. Chỉ có Việt Minh mới là đang  thuộc phe Đồng minh vì đag đứng lên giải phóng dân tộc. Nhân dân ta đã đồng lòng lập nên một nước Việt Nam mới, đó là thành quả của một quá trình dài đấu tranh bền bỉ vượt qua khó khăn áp bức  của cả dân tộc khiến cho “Pháp phải chạy, Nhật phải  hàng, Vua Bảo Đại phải thoái vị”. Từ đó  Người dõng dạc  tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp xóa bỏ hết những hiệp ước mà thực dân  Pháp đã ký với nước Việt Nam, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ chống lại mọi âm mưu xâm lược: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp “.

 

Kêu gọi cộng đồng quốc tế Công nhận quyền độc lập tự do lãnh thổ của dân tộc Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê – hê – răng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Lời lẽ của chủ tich  Hồ Chí Minh vừa mềm dẻo vừa thắt buộc, vừa kiên quyết cũng như là  vừa lắng đọng tất cả niềm tự hào dân tộc, cùng với ý chí quyết chiến quyết thắng và niềm khao khát tự do của cả một dân tộc yêu chuộng hòa bình.

Từ đó Người tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 30 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy  năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” . Bản Tuyên ngôn đã xây dựng vững chắc  hình tượng đất nước, ban đầu là thì  một  đất nước nhỏ bé với những người dân bị  nô lệ lầm than và  bị cùm kẹp giữa xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật: “bị chém giết, đàn áp, đầu độc, bị bóc lột đến xơ xác tiêu điều”. Hồ Chí Minh đã sử dụng  khéo léo những  tính từ chỉ mức độ tuyệt đối để phác họa lại hình ảnh cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ.

Dòng cảm xúc và  tâm tư cùng với  tình cảm của Bác Hồ ẩn chứa toàn bộ   trong tác phẩm: Tuyên ngôn Độc lập chắc chắn là một trong những niềm xúc động, hạnh phúc to lớn  nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh như có lần Người đã thổn thức tâm sự.

Phía sau những lập luận chặt chẽ  sắc đá dọng nói   đanh thép  đầy tính đối thoại đó ,đã  xác định giá trị pháp lý của chủ quyền dân tộc là dòng cảm xúc chan chứa tình cảm của người viết Tuyên ngôn. Bởi lẽ những lời tuyên bố trang trọng hùng hồn trên Quảng trường Ba Đình lịch sử cho toàn thể dân tộc Việt Nam và nhân dân trên thế giới là kết quả của biết những khó khăn áp bức cùng với  bao nhiêu máu đã đổ của các chiến sĩ trên chiến trường, trong trại tập trung hay  trên máy chém, bao nhiêu tính mạng con người sẵn sàng hi sinh để đổi lấy độc lập tự do cho cả dân tộc .

Mỗi dòng chữ là chan chứa biết bao những niềm tự hào khi so sánh cách mạng dân tộc với những cuộc cách mạng lớn trên thế giới.  Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô bờ bến  khi đất nước đã được hoàn toàn độc lập tự do. Mỗi dòng chữ cũng là những nỗi  đau đớn, nhức nhối khi ngước  nhìn lại bao rên xiết lầm than rồi lại những dòng máu tươi đã đổ xuống của nhân dân ta suốt hơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Sức thuyết phục của áng văn chính luận đối với những  người đọc không chỉ là ở  hệ thống lập luận sắc sảo  đanh thép cũng như  mẫu mực của nó mà còn ở tình cảm chan chứa đầy  sâu sắc của tác giả.

Tiếp nối bước đi của  các áng hùng văn trước đó, Tuyên ngôn Độc lập đã khơi dậy được  cho người đọc những suy tưởng về cội nguồn của dân tộc và đánh thức lòng đoàn kết của nhân, đánh thức cả nỗi đau như chưa từng phai của  dân tộc: “Người đã đói mọi cơn đói ngày xưa/ Người đã chết hai triệu lần năm đói 45 khủng khiếp” (R.Rô- Tri – ghết). Nhà thơ Tố Hữu đã đặt bút để viết về giây phút xúc động thiêng liêng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị đứng lên đọc bản Tuyên ngôn Độc lập: Người đứng trên đài lặng phút giây Trông đàn con đó Vẫy hai tay Cao Cao vầng trán ngời đôi mắt Độc lập bây giờ mới thấy đây Độc  lập  chính là thành quả của một quá trình mà nhân dân ta, đất nước ta vụt đứng lên lớn mạnh với vóc dáng  tinh thần quả cảm và sức sống mãnh liệt. Sức sống sức mạnh tinh thần đoàn kết của  dân tộc đã hóa thân thành những tổ chức cách mạng là Việt Minh bền bỉ kiên cường lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc.

Vị thế của đất nước ta ngày càng lớn mạnh ngang tầm với  các nước trong phe Đồng minh chống lại  phát xít. Tư tưởng dân tộc hòa quyện  cùng với tinh thần thời đại đã tạo  nên sự trường tồn của chân lí của tuyên ngôn Độc lập.

C/ Kết luận:

Tuyên ngôn Độc lập một lần nữa khẳng định chắc nịch về  truyền thống yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc của cả dân tộc. Đó là sự nối tiếp truyền lại và  tiếp nhận những tinh hoa từ những thế hệ cha anh. Để cuối cùng đã khai sinh ra đất nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – đất nước được xây dựng từ biết bao xương máu của những thế hệ đi trước và từ cả từ tinh thần của dân tộc.

xem thêm các bài khác tại đây >>> click vào đây

Bài viết liên quan