Dàn ý bài thơ việt bắc đầy đủ rễ hiểu mới nhất 2021

Dàn ý bài thơ việt bắc đầy đủ những vấn đề quan trọng

Việt Bắc chắc hẳn là một bài thơ dài và không hề dễ học vậy nên dàn ý bài thơ Việt Bắc sẽ là một công cụ quan trọng giúp các em có thể  học tốt hơn tác phẩm này.

Đúng vậy có lẽ  không tự nhiện bài thơ Việt Bắc lại được đưa vào SGK Ngữ Văn 12 và là một trong nhiều bài thơ tiêu biểu nhất của nhà thơ Tố Hữu điều đó chứng tỏ tình quan trọng và ý nghĩa của bài thơ này.

Dàn ý bài thơ việt bắc
Dàn ý bài thơ việt bắc

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Việt Bắc là chính khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp

– Tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ chính thức  được ký kết, hòa bình đã lập lại ở miền Bắc. Vào tháng 10 năm 1954, ngay sau cuộc kháng chiến chống lại TDP kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ ta từ Việt Bắc chuyển về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số nhiều những cán bộ kháng chiến đã từng sống và gắn bó nhiều năm cùng với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về với  miền xuôi. Bài thơ từ đó  được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó.

2. Dàn ý bài thơ việt bắc

2.1 Kết cấu của bài thơ việt bắc

+ Đối đáp giữa Việt Bắc song song với  người cán bộ kháng chiến từ giã Việt Bắc. Đây là cuộc chia tay mang đậm ý nghĩa lịch sử, cuộc chia tay giữa những người đã từng gắn bó dài lâu mang  đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nồng đã  từng chia sẻ mọi đắng cay và  ngọt bùi . Thì  nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, cùng chung nhau cất lên nỗi hoài niệm tha thiết về những ngày đã qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt  keo sơn và hẹn ước trong tương lai.

+ Lời đối đáp gần gũi cũng như rất  thân thuộc như trong ca dao và  dân ca.

+ Bài thơ vì thế mà được coi như lời tâm tình chan chứa yêu thương của những người yêu nhau.

+ Trong đối đáp nhà thơ  Tố Hữu sử dụng đại từ mình – ta với ý nghĩa vừa là ngôi thứ nhất, cũng vừa là ngôi thứ hai. Tình cảm chan chứa đầy ắp yêu thương vì thế mà như được nhân lên. Chuyện về nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đến với lòng con người bằng con đường của tình yêu.

+ Nhìn sâu hơn vào trong kết cấu bài thơ thì đối thoại chỉ là lớp kết cấu bên ngoài, còn ở chiều sâu bên trong mới chính là lời độc thoại của chính nhân vật trữ tình đang chìm đắm mình trong hoài niệm về quá khứ gian khổ mà tươi đẹp ấm áp nghĩa tình, nghĩa tình nhân dân cùng thời cả  nghĩa tình kháng chiến và cách mạng và  khát vọng về một  tương lai tươi sáng. Kẻ ở- người đi; lời hỏi- lời đáp có thể xem như là sự phân thân để tâm trạng được bộc lộ ra đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng và cả  vang ngân.

Dàn ý bài thơ Việt Bắc

3. Phân tích văn bản của bài thơ việt bắc.

Những phút giây đầu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng bỡ ngỡ , lưu luyến giữa người thì ra đi kẻ thì ở lại .

– Bốn câu đầu: lời ướm hỏi của kẻ ở lại.

+ Câu hỏi với sự ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng đầy gian khổ hào hùng, cảnh và  người Việt Bắc gắn bó nghĩa tình với những con  người kháng chiến; đồng thời khẳng định đinh thép tấm lòng thủy chung của mình.

+ Nghĩa tình của kẻ ở- người đi được biểu hiện qua các đại từ mình- ta quen thuộc trong dòng  thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đôi lứa, cách xưng hô như : mình- ta tạo nên sự thân mật và gần gũi. Điệp từ : nhớ, láy đi, láy lại cùng với những lời nhắn nhủ như  “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên mà lòng cứ day dứt khôn nguôi.

+ Các từ thiết tha và  mặn nồng thể hiện biết bao nhiêu  ân tình gắn bó.

– Bốn câu sau là : tiếng lòng của chính người cán bộ về xuôi

+ Tuy không trả lời trực tiếp những  câu hỏi của người ở lại nhưng  đi kèm đó là tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng với các cử chỉ ‘cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên được  tình cảm : chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn luyến lưu của người cán bộ với cảnh và con người Việt Bắc.

+ Lời hỏi của người  ở lại đã khéo nhưng đi kèm câu trả lời còn khéo léo hơn thế. Không phải là câu trả lời có hay không mà quan trọng là những cử chỉ. Câu thơ bỏ lửng “cầm tay…” đã diễn tả được  thái độ nghẹn ngào không nói lên lời của người cán bộ khi giã từ Việt Bắc về xuôi.

+ Hình ảnh “áo chàm”- là nghệ thuật hoán dụ, chính  trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc. Rất có thể đó là hình ảnh thực nhưng  ngược lại cũng có thể là hình ảnh trong tưởng tượng của người cán bộ kháng chiến để rồi mỗi lần hình ảnh áo chàm bay vào  trong tâm trí của người cán bộ là mỗi lần bao nhiêu nỗi nhớ thân thương lại dội về.

3.1 Dàn ý 12 câu tiếpcủa bài thơ việt bắc:

Gợi lại biết bao những kỉ niệm chiến khu gian khổ mà nghĩa tình:

– Nhớ về thiên nhiên và  cuộc sống cũng như  tình người VB:

+ Nhớ một thiên nhiên đầy dẫy sự khắc nghiệt: “mưa nguồn, suối lũ, mây cùng mù”

+ Nhớ một chiến khu đầy gian khổ, nhưng luôn sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc: “ cơm chấm muối, mối thù nặng vai ”.

+ Nhớ những sản vật vùng  miền rừng: trám bùi, măng mai.

+ Nhớ những chiếc mái nhà nghèo nàn nhưng ấm áp đậm tình người cũng như  tình cách mạng.

+ Nhớ những năm đầu của cuộc kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa.

– Nỗi nhớ ấy đã được thể hiện bằng những dòng thơ lục bất đậm đà chất dân gian, những cặp câu thơ lục bát đều có sự phối hợp thanh điệu hài hòa. Sáu dòng lục kết hợp  thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu trúc thanh bằng- trắc- bằng đã tạo ra nhạc điệu ngân nga trầm bổng nhẹ nhàng và  khoan thai.

– Hầu hết các câu thơ đều ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân xứng hoặc  hô ứng về câu trúc và  nhạc điệu: Mưa nguồn suối lũ/những mây cùng mù;  “ Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai…” Có những cặp tiểu đối khắc ghi những sự kiện nhưng lại  có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực gian khổ, vế còn lại khắc sâu vào vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc gắn bó son sắt cùng với lối đầy sống ân nghĩa thủy chung. Người đọc như đã gặp lại hồn xưa dân tộc nương náu trong những trang thơ lục bát của nhà thơ Tố Hữu.

– Ở câu thơ  “Mình đi mình lại nhớ mình”: nhớ mình- tức là  nhớ người ở lại nhưng cũng như là nhắc nhở chính mình hãy luôn nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đẫm nghĩa tình.

3.2 Dàn Ý Từ câu 25 đến câu 42 của bài thơ việt bắc:

Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ  nhưng mà ấm áp nghĩa tình.

Nhớ gì như nhớ người yêu
……
Chày đêm nện cối đều đều suối xa

– Nỗi nhớ được so sánh đối với nhớ người yêu: Nỗi nhớ mãnh liệt và cũng không kém phần  da diết.

– Từ nỗi nhớ như là  nhớ người yêu, Việt Bắc hiện lên cùng với những nét đẹp rất riêng: Trăng đầu núi cũng như  nắng lưng nương cùng những tên gọi như  địa danh cụ thể.

– Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại làm cho nỗi nhớ thêm phần da diết. Trong kí ức của người đi còn là sự in dấu khoảnh khắc thời gian (trăng đấu núi, nắng chiều lưng nương), từng khoảng không gian của cây, sông, suối (Nhớ từng rừng nứa… vơi đầy). Vẻ đẹp thiên nhiên nên thơ trữ tình  sẽ còn đọng mãi trong nỗi nhớ nhung của người ra đi.

– Tuy nhiên thì  , da diết và đậm sâu hơn cả vẫn chính  là nỗi nhớ về con người, về ân tình Việt Bắc: bình thường đồng thời cũng  giản dị mà ân nghĩa thủy chung:

+ Nhớ Việt Bắc là nhớ đến cái tấm lòng biết sẻ chia: bát cơm sẻ nửa và  chăn sui đắp cùng.

+ Nhớ đến nghĩa tình của người sinh thành :người mẹ địu con và  bẻ từng bắp ngô.

+ Nhưng cũng là nhớ đến đồng chí cùng với  đồng đội với bao gian nan vất vả: Nhớ sao … núi đèo

– Việt Bắc vì thế tuy rằng có   gian khổ , vất vả nhưng mà trong kí ức vẫn rất thanh bình và  đẹp đẽ: “ Nhớ sao tiếng mõ … suối xa ”

=>Đoạn thơ đủ sức gợi ra thật rõ nét và thấm thía mọi  khung cảnh bản làng, tình người cũng như  tình quân dân của chiến khu những năm kháng chiến đánh  Pháp với tất cả những dáng nét, âm thanh, không khí và  tâm tình. Những câu thơ cất lên nghe sao mà trìu mến, nói về mẹ  về cả  trẻ thơ, về  những người thương yêu dấu.

sơ đồ tư duy bài việt bắc
sơ đồ tư duy bài việt bắc

3.3 Dàn ý bức tranh tứ bình về thiên nhiên, con người Việt Bắc.

Ta về mình có nhớ ta
…..
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

– Hai dòng thơ đầu chính là lời khẳng định vể nỗi nhớ thương da diết và tình cảm thủy chung sắc son của người ra đi dành cho quê hương Việt Bắc. Nỗi nhớ ấy đã làm sống dậy trong tâm tưởng hình ảnh thiên nhiên, con người nơi chiến khu của  cách mạng.

– Thiên nhiên ở Việt Bắc đẹp trong sự đan cài  xen kẽ với vẻ đẹp của con người “hoa” cùng “người”: Đoạn thơ gồm có bốn cặp câu lục bát: câu 6 miêu tả thiên nhiên, câu 8 miêu tả  về con người.

– Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong vẻ đẹp trong  bốn mùa:

+ Mùa đông trên nền xanh bạt ngàn cây lá bỗng  bất ngờ hiện lên  một sắc màu đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ ấy đã  làm ấm cả không gian

+ Mùa xuân hiện lên với sắc trắng của hoa mơ- loài hoa đặc trưng của vùng  Việt Bắc, 1 màu trắng miên man và tinh khiết, đẹp đến động  lòng.

+ Mùa hè cũng bắt đầu cùng  với tiếng ve kêu vang ngân và sắc vàng của rừng phách.

+ Mùa thu với ánh trăng chan hòa trên mặt đất cũng như  đem lại không khí bình yên

– Hình ảnh con người đã khắc sâu trở thành tâm điểm của bức tranh tứ bình, tạo nên sức sống sinh động  của thiên nhiên cảnh vật. Những con người Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ bỗng thật thân quen, bình dị và  thầm lặng ẩn trong những công việc của đời thường:

+ Mùa đông thì trở nên ấm áp với “ánh nắng dao giài thắt lưng”.

+ Bức tranh mùa xuân hòa chung cùng với cái dáng vẻ cần mẫn chăm chút  của “người đan nón” + Bức tranh màu hè  bỗng  hoá dịu dàng với hình ảnh cô em gái hái măng một mình .

+ Mùa thu là tiếng hát ngân vang nghĩa tình thủy chung của con người cất lên giữa đêm trăng.

– Đoạn thơ mang theo nét đẹp cổ điển mà hiện đại

+ Vẻ đẹp cổ điển là : Bức tranh tứ bình hiện lên qua những nét gợi tả  trữ tình

+ Vẻ đẹp hiện đại là : Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm từ đó  tạo nên vẻ đẹp, sức sống sinh động  của bức tranh.

3.4 Từ câu 53 đến câu 83của bài thơ việt bắc:

Khung cảnh Việt Bắc  trong thời gian kháng chiến, đã lập nhiều chiến công, vai trò của vùng Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.

  1. Từ câu 53-> 74

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
………………..Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Trong những hoài niệm bao trùm gồm có ba mảng thống nhất hòa nhập đó là: nỗi nhớ thiên nhiên- nỗi nhớ con người cuộc sống ở nơi Việt Bắc- nỗi nhớ về những cuộc chiến đấu anh hùng chống TDP xâm lược. Xuôi theo dòng hồi tưởng, người đọc đã được sống lại những giây phút hào hùng của cuộc kháng chiến với không gian rộng lớn, những hoạt động tấp nập và  sôi động được vẽ bằng bút pháp của những tráng ca. Cảnh Việt Bắc đánh giặc đã được miêu tả bằng những bức tranh rộng lớn và  kì vĩ.

+ Rừng núi mênh mông hùng vĩ đã trở thành bạn của ta, chở che cho bộ đội của  ta, cùng quân và dân ta hợp sức đánh giặc.

+ Chiến khu là căn cứ vững chắc giăng kín  đầy nguy hiểm với quân thù.

+ Nghệ thuật so sánh và  nhân hoá: núi giăng…luỹ sắt và  rừng che –  rừng vây…

+ Những cái tên cùng với  những địa danh ở chiến khu Việt Bắc:  gồm phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Cao- Lạng…ngân vang lên đầy mến yêu, niềm tự hào từ đó  cũng trở thành nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về xuôi.

+ Không khí chiến đấu sôi nổi hào hùng đi kèm với  khí thế hừng hực trào sôi:

~ Sức mạnh của quân ta với các lực lượng như  bộ đội và  dân công… sự hợp lực của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc không thể bị đánh bại .

~ Các từ  như : Rầm rập, điệp diệp, trùng trùng…đã thể hiện được  khí thế dồn dập.

~ Hình ảnh những  người chiến sĩ được gợi lên qua chi tiết phong phú  chất tạo hình: “ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan”-> ánh sáng của sao soi sáng  dẫn đường, ánh sáng của niềm tin và  của lí tưởng.

~ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước tiến  cao hơn “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.

+ Chiến công tưng bừng vang dội khắp mọi  nơi: gồm có  Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà lan rộng bốn phương: Vui từ…vui về…vui lên…

+ Đoạn thơ bỗng ngập tràn ánh sáng:  gồm ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như ánh sáng của niềm tin tưởng và  niềm vui tràn ngập.

+ Nhịp thơ dồn dập gấp gáp mang theo  ấm hưởng hào hùng náo nức tạo thành khúc ca chiến thắng.

B.Từ câu 75- câu 83.

Đoạn thơ đã phác họa rõ nét  hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp Chính phủ . Hình ảnh Việt Bắc quê hương cách mạng chính là đầu não của cuộc kháng chiến cũng là  nơi đặt niềm tin tưởng và hy vọng của con người Việt Nam từ mọi miền ccu đất nước, đặc biệt là những nơi vẫn còn “u ám quân thù”.

4. Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ việt bắc

Việt Bắc là một trong những tác phẩm đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tiếng thơ đậm trữ tình- chính trị của Tố Hữu sinh động  tính dân tộc.

– Những bức tranh chân thực nhất , đậm đà bản sắc dân tộc mô tả về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái  hiện trong tình cảm tha thiết , gắn bó sâu sắc đằm thắm của tác giả.

– Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc  đối với cách mạng và kháng chiến, cùng với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy đã hòa nhập và từ đó  tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn đã là truyền thống sâu bền của dân tộc ta.

+ Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống từ đó  đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại có thể biến hóa đa dạng.

+ Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca đã được vận dụng một cách thích hợp và  tài tình

+ Những cách  nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống như  (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ)

+ Giọng thơ ngọt ngào đầm ấm , tâm tình và  cách xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như là  một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng cùng  với người dân Việt Bắc

5. Chủ đề của bài thơ việt bắc

Việt Bắc hẳn là một câu chuyện lớn, một vấn đề tư tưởng đã được diễn đạt thẳng thắn  bằng một cảm nhận mang tính chất riêng tư. Bài thơ gợi đã về những ân nghĩa, nhắc nhở sự thủy chung của con người đối  với con người  cũng như  đối với quá khứ cách mạng nói chung.

Bài viết liên quan